LINH DƯỢC – May 17, 2009

Tháng Năm 17, 2009

Thư gửi “blogger- con”

Ảnh minh họa: Friends list của một blogger

Thời đại Internet – thời đại giúp mọi người khắp nơi trên thế giới kết nối và làm quen với nhau. Sự ra đời của blog khiến mọi người dễ bày tỏ và truyền thông với nhau hơn nữa. Thế giới cứ tưởng chừng thu nhỏ lại, và nằm gọn trên màn hình.

Ngồi một chỗ mà biết tất cả mọi chuyện, cùng một lúc biết tất cả những nỗi niềm sẻ chia…

Thế nhưng, mẹ thấy con nối kết, truyền thông với mấy trăm người bạn, nhưng lại không truyền thông được với gia đình. Tuổi trẻ ngày nay sống cùng với net, giao lưu, trao đổi qua chat, qua những comment. Hiếm hoi lắm, mẹ mới thấy mặt con trong bữa cơm tối cùng gia đình (nhưng mà bữa có bữa không).

Sau bữa cơm tối, sau những việc cá nhân, con lại bật máy và sống với thế giới của riêng mình. Cười một mình, lắc lư một mình theo điệu nhạc. Không còn những giờ phút cùng cả nhà xem một bộ phim, bình luận một vấn đề thời sự hay quây quần nói những câu chuyện không đề. Con chúi đầu vào computer suốt ngày ở công ty, tối về lại điệp khúc đấy. Mẹ có cảm tưởng như con không gặp người thân cũng không sao, chứ không vào net là không được, không họa qua đáp lại với tụi bạn là không xong.

Con có biết đâu rằng, hôm nay gương mặt mẹ dường như mỏi mệt, mẹ cần lắm một lời hỏi han. Nhưng đi qua đi lại, mẹ chỉ thấy con nhìn vào màn hình, thay vì ngước nhìn mẹ. Con đâu biết rằng hôm nay ba đau trong người, mà chỉ cần để ý, con sẽ biết ngay, nhưng rồi mẹ nghĩ con đang bận bịu…

“Thời gian qua đi có trở lại bao giờ…”

Con vui thú vì kết thân với nhiều người bạn, con hài lòng với thế giới blog đã giúp mọi người hiểu con cũng như con hiểu được mọi người. Con biết được một blogger nào đó đang bị bệnh, đang stress, nhưng chẳng biết được rằng người thân của con đang buồn. Con tìm đến thế giới ảo, từ chối xúc chạm với nhưng gì hiện hữu thực sự bên con. Con không thèm để ý hôm nay mẹ mua cho ba chiếc áo mới và ba mặc rất đẹp. Nhưng chỉ cần một blogger nào có avatar mới, là con biết ngay và không tiếc lời bình phẩm. Mẹ cười nhưng cứ thấy tủi làm sao.

Mẹ thấy dạo này con thay đổi, mẹ nghĩ con đã tìm được tình yêu, và các con thường xuyên gặp nhau trên mạng. Chắc mẹ còn quá cổ hủ khi nghĩ rằng “tri nhân, tri diện, bất tri tâm” huống chi là … Những biểu hiện, những va chạm thực tế còn chưa giúp chúng ta hiểu hết về nhau nữa là cứ trò chuyện với nhau qua cái màn hình. Như thế thì làm sao con biết được biểu hiện thật lòng, là cái đỏ mặt, là vẻ giận hờn chứ không phải những biểu tượng vô cảm kia. Nói ra con lại biện minh, như thế lại dễ tỏ bày với nhau. Mẹ lại nghĩ, những lời yêu thương dễ dàng nói ra đấy rồi cũng sẽ vụt tắt như khi con tắt màn hình computer vậy.

Có lẽ mẹ không hiểu tình yêu thời @ của các con. Mẹ chỉ thích hồi tưởng lại tình yêu đôi lứa thời xa xưa, một cái nắm tay, một ánh nhìn ấm áp, liệu cái computer có truyền cho con cảm xúc đó không? Hôm qua, không biết con có đọc được tin này trên báo TT không: “Thậm chí đến 84% cho biết họ sống phụ thuộc vào máy tính từ ba năm qua mà không cần đến những quan hệ giới tính thông thường. Hơn phân nửa người tham gia nghiên cứu khẳng định chiếc máy tính là nguồn gốc xuất phát những cảm xúc giận hờn hay buồn vui của họ!”. Đấy, mẹ nói có sai đâu!

Viết những dòng này, mẹ chỉ mong con biết sống quân bình, truyền thông với bao người, nhưng đừng làm rạn sợi chỉ yêu thương trong gia đình con nhé! Mẹ biết con yêu thương gia đình, nhưng con ơi, tình thương cần sự biểu lộ. Khi con làm cha, làm mẹ, con sẽ hiểu được nỗi lòng này của mẹ.

Mẹ không nghĩ sau này, gia đình bé con của con, mỗi người một computer, rồi nỗi niềm chia sẻ với nhau qua blog chứ không phải dành chút thời gian quây quần chuyện trò, tâm sự. Chúng ta sống mà còn có thể nhìn thấy mặt nhau mỗi sáng mỗi chiều đó là điều hạnh phúc, thế nhưng mẹ muốn chúng ta có cái nhìn thật sự trìu mến với nhau…

Nguồn: Lệ Ý – Tạp chí Văn hóa Phật giáo

Advertisements

SỰ ĐỜI – May 07, 2009

Tháng Năm 7, 2009

NGƯỜI CHỒNG LIỄU GAI
URSULA WILLS-JONES

_ < 1 > _

Ngày xửa ngày xưa, có một cô gái hết sức xấu xí. Cô vừa thấp vừa lùn, một chân ngắn, đã thế hai tròng mắt nâu còn đổ dồn về điểm giữa. Cô phải moi ruột cá kiếm sống, vì thế tay cô luôn có mùi tanh, còn váy thì luôn bị đóng vẩy. Cô không cha, không mẹ, không anh chị, cũng chẳng có bất cứ người bạn nào. Cô sống trong một căn nhà đổ nát bên rìa làng. Nhưng chẳng bao giờ cô than vãn một lời nào hết.

Các cô gái trong làng lần lượt lên xe hoa với các chàng trai. Họ vui vẻ dẫn nhau tới nhà thờ với niềm hạnh phúc nhất trong cuộc đời. Cô gái xấu xí luôn đứng phía sau nhà thờ mỗi khi có đám cưới và khóc lặng lẽ. Đàn bà trong làng thì mang cô ra trong những câu chuyện phiếm. Họ không hiểu cô dùng tiền vào việc gì bởi vì chẳng bao giờ thấy cô mua áo dài, sửa nhà hay uống rượu.

Ở ven làng, có một ông cụ đan rổ rất nổi tiếng sống trong một đầm lầy lớn và ẩm thấp. Một ngày nọ, ông cụ nghe thấy tiếng gõ cửa. Khi ra mở, cụ thấy cô gái xấu xí đang đứng ở đó. Trong tay cô là 6 đồng vàng.

Cô nói:

“Cụ hãy làm cho cháu một người chồng”.

Cụ đáp:

“Tháng sau quay lại nhé”.

Hãy xem, ông cụ đan rổ vĩ đại đến mức được cô gái xấu xí giao phó cho một nhiệm vụ quan trọng đến thế cơ mà. Ông cụ cố gắng làm một người chồng tốt nhất có thể. Ông đan một người chồng có đôi vai rộng và đôi chân dài cùng với tất cả các bộ phận mà người phụ nữ thích. Ông làm cho anh có cánh tay khỏe mạnh và cái cổ tao nhã. Trán của anh lớn và rộng. Tóc anh màu nâu sẫm, mắt anh màu lục nhạt.

Đến hẹn, cô gái xấu xí đến tìm ông cụ đan rổ. Ông cụ nói với cô: “Cậu ấy bảo hôm nay thì hơi sớm, cô ạ. Mười giờ sáng mai cậu ấy sẽ đến nhà thờ”. Cô gái rời khỏi nhà ông cụ và dành cả ngày để gột sạch vẩy cá khỏi váy.

_ < 2 > _

Tối muộn hôm ấy, tự dưng ông thợ may trong làng lại nghe thấy tiếng gõ cửa. Khi ra mở, ông thấy người đàn ông bằng liễu gai đứng ở phía ngoài. Anh ta nói:

“Ông làm ơn cho tôi mượn một bộ quần áo. Ngày mai tôi làm đám cưới, tôi không thể tr… tr… tới nhà thờ được”.

“Aaaaaaaargh!”– ông thợ may hét lên, chạy trốn sau cánh cửa.

Bà vợ ông này trở ra, phẩy tay hỏi: “Chuyện gì vậy?”

“Bà làm ơn cho tôi mượn một bộ quần áo”– người chồng liễu gai nói – “Tôi sẽ cưới vợ vào sáng mai, làm sao tôi có thể tr…tr… trong tiệc cưới của mình được”.

Bà vợ ông thợ may đưa cho anh ta một bộ, rồi đóng sập cửa lại ngay trước mặt anh ta.

Ngày hôm sau, có người gõ cửa nhà ông thợ giày. Khi ông này mở cửa, người chồng liễu gai đã đứng ở đó.

“Ông làm ơn cho tôi mượn đôi giày. Sáng nay tôi làm đám cưới, mà tôi không thể đi chân không vào nhà thờ được”.

“Aaaaaaaaargh!”– ông thợ giày hét lên và bỏ chạy.

Bà vợ ông ta bước ra, run rẩy hỏi: “Anh cần gì?”

“Bà làm ơn cho tôi mượn đôi giày. Sáng nay tôi làm đám cưới, mà người ta không thể đi chân không vào nhà thờ được”.

Bà vợ ông thợ giày đưa cho anh một đôi, rồi sập cửa lại ngay trước mặt anh ta. Có giày rồi, người chồng liễu gai tới quán rượu ở làng.

“Cho tôi xin ít rượu nhé”– người chồng liễu gai nói- “Tôi sẽ làm đám cưới, và tôi muốn có thể ăn mừng tí chút”.

“Aaaaaaaargh!”– ông chủ quán rượu và tất cả khách khứa hét lên bỏ chạy. Người đàn ông tội nghiệp đành đến quầy, tự rót rượu cho mình.

Lúc cô gái xấu xí đến nhà thờ vào buổi sáng, cô cực kỳ sung sướng khi nhận ra chồng mình vừa đẹp trai lại vừa tháo vát.

Khi đôi tình nhân cùng tận hưởng đêm tân hôn, người chồng liễu gai nói với vợ mình: “Cái giường bị gẫy rồi em ạ. Ngày mai em mang cho anh cái đục, anh sẽ sửa”.

_ < 3 > _

Người chồng liễu gai đã thực hiện xuất sắc vai trò làm chồng của mình và bắt đầu sửa cái giường. Cô gái xấu xí đi moi ruột cá, khi cuối ngày trở về nhà, người chồng liễu gai nhìn cô và nói: “Anh sinh ra là để dành riêng cho em”.

Khi hai vợ chồng cùng tận hưởng đêm thứ hai của tuần trăng mật, người chồng liễu gai nói: “Mái nhà bị thủng rồi em ạ. Mai mang cho anh một cái thang, anh sẽ sửa nó”.

Ngày hôm sau, anh trèo lên sửa mái. Buổi tối cô gái xấu xí trở về nhà, người chồng liễu gai nhìn cô và nói: “Nếu không có em thì anh không bao giờ nhìn thấy mặt trời ở dưới nước và những đám mây trên cao”.

Khi đôi uyên ương cùng nhau tận hưởng đêm thứ ba của tuần trăng mật, cô gái xấu xí đã sẵn sàng để cởi mở bản thân mình. “Anh ạ, ống khói cần được lau chùi sạch”– cô tràn trề hi vọng- “và lò sưởi thì cần bố trí lại….” Nhưng lần này, người chồng liễu gai – mà cô bắt đầu học được cách biểu lộ tình cảm của anh – nhìn cô đầy kinh sợ. Từ đây cô hiểu ra rằng không phải cái gì cũng nhờ đàn ông được cho dù anh ta tốt bụng đến đâu chăng nữa.

Chỉ hơn một tuần sau, dân làng đã bắt đầu nhận ra sự thay đổi ở cô gái xấu xí. Việc một chân của cô ngắn hơn chân còn lại làm cặp m… của cô lắc lư liên tục không còn ảnh hưởng đến họ. Người cô vẫn còn có một mùi khó chịu, nhưng họ thấy rằng cô thường hát mỗi khi moi ruột cá. Cô mua áo dài mới và đeo hoa trên mái tóc. Thậm chí hai tròng mắt nâu của cô cũng không dồn về điểm giữa nữa vì người chồng liễu gai đã lấy ngón tay kéo nó ra. Khi dân làng đi qua nhà của cô, họ thấy nó được sơn mới, cửa sổ sáng loáng và cửa chính cũng không còn đổ xiêu vẹo nữa. Liệu bạn có nghĩ rằng tất cả những thay đổi đó làm hài lòng dân làng? Không. Thay vì thế, những người vợ căn vặn chồng mình rằng cửa nhà mình cũng cần phải sửa đấy, thế sao các ông chẳng làm gì cả? Những người đàn ông bắt bẻ lại, nếu các bà mà biết mặc áo dài mới và cài hoa lên tóc, biết đâu chúng tôi lại thích thú với việc sửa nhà. Thành ra tất cả mọi người càu nhàu chửi bới lẫn nhau, nhưng trong thâm tâm họ đều oán trách vợ chồng cô gái xấu xí.

_ < 4 > _

Cô gái xấu xí chẳng hề nhận ra những sự ghen tị ấy. Cô quá bận rộn với việc làm quen với cuộc sống gia đình và đã thấy những khuyết điểm của người chồng liễu gai không đáng kể gì so với ưu điểm của anh. Anh không ăn, và chẳng bao giờ than phiền bữa tối bị muộn. Anh chỉ uống nước, nước càng bẩn lại càng tốt. Cô hơi buồn vì không thể nấu cho anh bữa tối và nhìn anh ăn như một người đàn ông bình thường. Vào những đêm giá rét, cô muốn hai vợ chồng có thể cùng nhau ngồi bên lò sưởi, nhưng anh lại thích bóng tối hơn và ngồi rất xa ngọn lửa. Cô gái xấu xí quen với việc nói chuyện với anh bằng giọng nói có âm lượng đủ xuyên qua cả căn phòng. Khi đông qua xuân tới, mưa rơi, người chồng liễu gai bị lên mốc, cô phải lấy bàn chải và một ít giấm cọ người cho anh. Khi mùa hạ thay thế mùa xuân với thời tiết tháng Sáu cực kỳ khô ráo, thì anh lại than phiền rằng những mối ghép trong người bị rít, nên anh nằm dưới suối vào những giờ nóng nhất trong ngày. Cô gái xấu xí phải mang việc theo và ngồi trên bờ sông trông nom anh.

Rốt cuộc là với dân làng thì sự tò mò đã chiến thắng đầu óc bảo thủ. Một lần có đám cưới, họ mời cô gái xấu xí và chồng đến dự. Ở đây âm nhạc và vũ điệu có nhiều như thức ăn và rượu vang. Khi nhạc công chơi đàn, người chồng liễu gai cùng cô gái xấu xí vào nhảy. Dân làng không thể không nhìn chằm chằm được: người chồng liễu gai nhảy đẹp quá. Anh nâng bổng cả cô vợ chắc mập của mình lên cứ như cô chỉ nặng bằng sợi tóc và giúp cô xoay tròn. Anh rung người lắc lư, trông anh cực kỳ tao nhã và duyên dáng. Còn với cô gái xấu xí? Cô thật đang ở trên thiên đường.

Những người đàn bà bắt đầu lấy tay che miệng để thì thầm với nhau. Vợ người thợ rèn trơ tráo hơn cả, bà quyết định mời người chồng liễu gai nhảy. Khi nhạc tạm ngừng, bà bước về phía cặp vợ chồng. Cô gái xấu xí dẫm lên vạt áo chồng làm cho nó hơi cọt kẹt. Vợ người thợ rèn gõ nhẹ vào vai người chồng liễu gai, nhưng cánh tay anh vòng lấy cô gái xấu xí.

_ < 5 > _

“Em là mục đích sống duy nhất của anh” – người chồng liễu gai nói với vợ mình.

Vợ người thợ rèn nghe thấy điều đó thì giận dữ bỏ đi. Ngày hôm sau, trong làng cơ man là những cuộc ẩu đả tranh cãi dữ dội.

“Đồ có hai bàn chân trái!” – vợ người đóng già hét lên với chồng.

“Anh đã bao giờ nói với tôi được lời nào tốt đẹp chưa?” – vợ người thợ rèn om sòm.

“Tất cả những gì anh làm tối qua chỉ là nhìn ngắm người đàn bà khác” – vợ người làm bánh hét lên, mặc dù chẳng ai biết vì sao bà ta biết, bởi cả buổi tối bà cũng chẳng làm gì ngoài việc nhìn người chồng liễu gai. Những ông chồng bỏ trốn khỏi nhà và tập hợp lại ở quán rượu.

“Thế này không đúng”, họ lầm bầm, “Có thể nào lại thế”.

“Hãy để chúng ta thể hiện xem”.

“Sơn lại cửa”

“Sửa lại mái nhà”

“Thủ thỉ những lời ngọt ngào”

“Khiêu vũ!” – ông thợ rèn càu nhàu, rồi tất cả bọn họ đều nhổ nước bọt.

“Hắn không thực sự là đàn ông” – người làm bánh mỳ thì thào. “Thật kinh t…!”.

“Hắn ta không ăn”

“Hắn ta không bao giờ cằn nhằn”.

“Thậm chí hắn ta còn chẳng bao giờ đánh r…”, ông thợ may ủ rũ thêm vào.

Những người đàn ông lắc đầu, họ nhất trí rằng điều này không thể tiếp diễn.

Trong khi đó, những người đàn bà tập hợp lại ở một căn bếp khác.

“Vô lý” – họ thì thầm – “Tại sao con bé kia lại xứng đáng với chàng được?”

“Đó là do bùa mê”- họ thì thầm- “Con bé đã phù phép”.

Thế nào chả đến lượt chồng mình” – vợ người làm bánh nói- “Chúng mình cứ liệu đấy”.

“Cô ta đang đợi cơ hội”.

“Có phải con bé hơn tất cả chúng ta không nhỉ?”

“Cài hoa trên tóc à!!!”

“Các chị có thấy con bé nhảy không?”

Và tất cả bọn họ đều đồng ý rằng điều này không thể tiếp diễn được nữa.

Một ngày nọ, khi người chồng liễu gai kiểm tra lưới đánh cá về nhà, anh được bác hàng bánh mỳ bắt chuyện.

_ < 6 > _

“Hân hạnh” – bác hàng bánh mở lời. Người chồng liễu gai có đôi chút ngạc nhiên: ông này đã bao giờ thèm nói chuyện với anh đâu. “Tối hôm trước anh đã gây ấn tượng đấy”.

“Tôi ấy à?” – người chồng liễu gai hỏi.

“Đúng thế đấy” – bác hàng bánh tiếp tục. “Đàn bà họ xao xuyến hết cả đấy. Đã bao giờ anh nghĩ rằng…..”

“Gì cơ ?” người chồng liễu gai bối rối.

“Đàn ông chúng tôi thích anh lắm” – bác hàng bánh nói “Anh có khả năng đấy. Có rất nhiều cơ hội cho anh….” Bác ta ngả người về phía trước, vì thế mà người chồng liễu gai phải lùi lại, bởi anh không thoải mái khi ngửi hơi thở của bác ta đầy mùi bột nhào. “Vợ ông đồ tể….” – bác hàng bánh thêm vào đầy ý nghĩa – “trông cũng được lắm. Giờ này ông ta vắng nhà rồi. Này, sao anh không thử đến xem sao?”

“Tôi không thể”, người chồng nói. “Vợ tôi đang đợi tôi ở nhà”. Và anh sải bước trên đường làng. Bác hàng bánh bực tức trở về nhà.

Người chồng liễu gai quá thật thà, chẳng hề suy nghĩ gì về việc này cả, cũng chẳng cảnh báo vợ mình về một âm mưu đang được trù tính. Khoảng một tuần sau đó, khi cô gái xấu xí đang hái quả ở hàng rào thì gặp bà vợ người thợ may lén đi tới. Nhìn thấy rổ của chị ta rỗng, cô gái thoáng nghi ngờ.

“Em thân yêu!”– bà ta khóc lóc, hai bàn tay vặn vẹo.

“Chị muốn gì?” – cô gái xấu xí hỏi.

Bà vợ người thợ may lau sạch số nước mắt cá sấu trên mặt, giả vờ nhìn xung quanh. “Em thân yêu”, chị ta thì thào “Chị đến để nhắc nhở em thôi. Chồng của em ấy mà, người ta thấy anh ấy đi cùng những người phụ nữ khác đấy”.

“Người phụ nữ nào khác?” – cô gái xấu xí hỏi.

Bà vợ người thợ may vặn vẹo hai bàn tay. Điều này không ở trong dự kiến của bà ta. “Em ơi, đừng bao giờ tin vào đàn ông. Họ như nhau cả thôi. Mà nhất là đừng có trông mong gì ở anh ta: một người đàn ông như anh ta, mà ở với một người đàn bà như em. Nói thẳng đấy”.

Nổi giận, cô gái lấy ngay cái rổ đánh vợ người thợ may rồi bỏ chạy. Vốn đã hiểu về sự tàn nhẫn của cuộc sống hơn chồng mình, khi trở về nhà cô suy nghĩ về điều này rất lâu. Nhưng cô chẳng muốn chồng mình nổi giận nên chẳng nói gì cả.

_ < 7 > _

Bà vợ người thợ may bừng bừng nổi giận, lại trở về nhà với khuôn mặt đầy những vết cào. Tối hôm đó, những người vợ và những người chồng trong làng đều nhất trí rằng cần phải làm một điều gì đó mạnh tay hơn.

Mấy ngày sau đó, ông già đan rổ nghe thấy tiếng gõ cửa. Khi ông mở cửa, dân làng đứng đợi ở ngoài cả. Bà vợ người thợ may bắt đầu khóc lóc đầy tội nghiệp.

“Có chuyện gì thế?” – ông cụ hỏi.

“Cô ấy không có con” – vợ người thợ may sụt sịt đáp lời.

“Không có con trai” – chồng bà ta buồn bã.

“Hoặc một đứa con gái”.

“Không có ai làm nguồn an ủi lúc tuổi già của họ” – ông đồ tể thêm vào.

“Trái tim họ đang đau đớn” – bác hàng bánh tiếp tục.

“Vì thế hôm nay chúng tôi đến đây có một yêu cầu”.

“Giá mà ông có thể làm hộ chúng tôi một đứa trẻ. Làm từ liễu gai”.

Và họ đưa ra một túi vàng.

“Rất tốt” – ông cụ đan rổ đáp “Tháng sau quay lại đây nhé”.

Thế là vào một ngày mùa thu u ám, cô gái xấu xí đang ngồi bên lò sưởi thì nghe tiếng gõ cửa. Người chồng liễu gai ra mở. Dân làng đứng bên ngoài. Bà vợ người thợ may ôm một cái bọc trong tay, và cái bọc đang khóc.

“Cái gì đây?” cô gái xấu xí hỏi.

“Tất cả là tội l
i của anh đấy”
– ông đồ tể rít lên chỉ tay vào người chồng liễu gai.

“Thật ghê t…” – ông chủ quán trọ châm chọc – “Không còn là con người nữa”.

Ông thợ may mở lớp chăn phủ. Cô gái xấu xí nhìn đứa trẻ làm từ liễu gai. Đây chính là cái mũi của chồng cô, chính là đôi mắt xanh của chồng cô.

“Hãy nói với em đi rằng đó không phải sự thật!” – cô òa khóc.

Người chồng liễu gai không nói gì cả. Anh chỉ nhìn chằm chằm vào đứa trẻ. Anh chưa từng nhìn thấy đứa trẻ. Lúc này trái tim anh đầy ắp tình thương. Khi cô gái xấu xí nhìn thấy gương mặt anh, cô đầy chua xót, cúi xuống sàn nhà rên rỉ.

_ < 8 > _

“Đồ b.. thỉu, kinh t…, đồ hạ đ…”, người thợ may mắng. “Tao đốt nó đi!”. Ông ta chộp lấy đứa trẻ và ném nó vào ngọn lửa. Người chồng liễu gai hét lên, nhảy vào cứu.

Cô gái xấu xí òa khóc nức nở. Cô vớ lấy cây đèn và ném thẳng vào chồng mình. Cây đèn nổ tung, những mảnh kính vỡ tan tành. Dầu chảy ra khắp nơi. Ngọn lửa leo lên ngực người chồng liễu gai, lên tới cổ, rồi vào khuôn mặt. Anh cố gắng dập lửa, nhưng những ngón tay của anh dính đầy dầu và thế là nó cháy thêm. Anh la hét ầm ĩ, chạy ra ngoài và đâm đầu xuống nước.

“Ồ, xuất sắc!” – ông đồ tể nói với thái độ thỏa mãn.

Dân làng đâu cần nhìn cô gái xấu xí đến một giây, họ phải về nhà ngay cho kịp bữa tối. Trên đường về, bà vợ người thợ may ném đứa trẻ xuống rãnh. Bà nhìn mặt nó “Ờ, tệ thật đấy!”.

Ngày hôm sau, cô gái xấu xí đi lang thang trên đường lớn khóc lóc, gương mặt cô đầy tàn tro.

“Anh có nhìn thấy chồng tôi đâu không?” cô hỏi khách qua đường, nhưng họ thấy cô gái có vẻ điên rồ nên thúc ngựa qua mau. Khi bóng tối xuống, cô loạng choạng về nhà, không còn biết mình đang ở đâu. Đột nhiên cô nghe thấy tiếng âm thanh từ cái rãnh. Cô quỳ xuống và tìm thấy đứa trẻ liễu gai. Nó đang la hét, quẫy đạp, và nắm chặt bàn tay lại. Cô nhìn thấy trên gương mặt nó đôi mắt của chồng mình, cái mũi của chồng mình, bèn nâng nó trên ngực và mang nó về nhà.

Thế mà ông già đan rổ chẳng biết gì về tất cả những chuyện này. Một ngày kia, ông muốn xem các “tác phẩm” của mình hiện nay thế nào. Ông đi bộ vào thị trấn, và gõ cửa nhà người thợ may. Bà vợ ra mở cửa.

“Đứa trẻ sao rồi?” – ông cụ hỏi.

“Ồ, nó hả” – bà ta nói – “Nó chết rồi”. Và bà sập cửa ngay trước mặt ông cụ. Ông tiếp tục đến nhà cô gái xấu xí. Nơi đây, cửa đóng, vườn tược bị bỏ hoang, bụi bẩn bám đầy cửa sổ. Ông cụ gõ cửa, nhưng đợi mãi chẳng có ai trả lời cả.

_ < 9 > _

Ông cụ đan rổ chán nản trở về nhà. Đang đi bộ trên con đường dài tối tăm để vào trong đầm lầy thì nghe tiếng gì lạ trong đám cây cói. Thoạt tiên ông hoảng sợ: ông quấn khăn quàng cổ quanh mặt. Nhưng thứ lạ này dường như đang bám theo ông, đôi lúc nó lại còn rên rỉ.

“Ai ở đó?” ông cụ lên tiếng.

Có cái gì đó lảo đảo, trông thật thảm hại. Ông cụ nhìn chằm chằm vào và nhận ra đó là nửa trái của người chồng liễu gai: bàn tay và gương mặt anh đã bị lửa phá hủy. Bóng tối lỗ chỗ trên ngực anh, những nơi bị bỏng đang bắt đầu mục rữa.

“Họ đã làm gì đứa bé của tôi?” – ông cụ khóc.

Người chồng liễu gai chẳng nói gì cả: anh mất lưỡi rồi.

Ông cụ mang anh về nhà. Sáng hôm sau ông ngồi hoàn thiện lại anh. Nhưng khi làm việc, trái tim ông đầy giận dữ.

“Tôi tạo ra anh, nhưng tôi đã làm hỏng anh”, ông nói. “Tôi sẽ không bao giờ đưa anh trở lại đó”.

Thế là người chồng liễu gai lại trông y như lúc mới tạo ra, nhưng trên người anh vẫn còn mùi khét. Nhưng ngày qua ngày, cái thứ không khí ẩm cứ lớn dần trên anh. Ông cụ thay những chỗ liễu gai mục rữa, nhưng điều đó dường như vô dụng: người chồng liễu gai mục ruỗng từ bên trong.

Cuối cùng, ông cụ đan rổ nhận ra mình không thể làm gì hơn. Ông mặc áo khoác ngoài, tối đến ông lên đường vào làng. Ông đến nhà cô gái xấu xí. Trong vườn đầy rác rưởi, cô đứng đó ôm đứa trẻ. Cô đang hát một bài ru con buồn mà ông đã từng nghe. Ông cụ nhận ra đó chính là đứa trẻ mà tự tay ông làm, và ông động lòng. Ông cụ bước ra ngoài ánh sáng.

“Tại sao cô giữ lại đứa trẻ” – ông nói – “Khi cô đuổi chồng mình ra khỏi nhà?”

Cô gái xấu xí òa khóc khi nghe ai đó nói chuyện với mình.

_ < 10 > _

“Đó là toàn bộ câu chuyện” – cuối cùng cô cũng nói. “Tôi không thể bỏ mặc nó chết dưới rãnh, dù đây chính là bằng chứng của sự phản bội”.

“Cô thật là ngốc” – ông nói – “Là tôi tạo ra đứa trẻ đấy. Chồng cô vô tội”.

Thế là cô gái xấu xí òa lên khóc, và chạy thẳng về phía dòng sông. Nhưng ông cụ giữ tay cô gái lại. “Đợi đã, tôi có cái này cho cô xem”.

Cô gái xấu xí bước bên ông, họ mang theo đứa trẻ băng qua đầm lầy nước xoáy rì rào. Khi mặt trời mọc, cô mới nhận ra những nét của nó chính là những nét của ông cụ đan rổ, người mà cũng giống những nghệ nhân khác, đặt gương mặt chính mình vào sáng tạo của mình.

Khi họ đến nơi ở của ông cụ, cô gái xấu xí mở cửa và nhìn tháy chồng mình đang ngồi trong bóng tối.

“Không thể là anh được” – cô nói – “Anh đã chết rồi cơ mà. Em biết điều đó: tự tay em đã giết anh”.

“Anh sinh ra chỉ để dành cho em” – người chồng liễu gai nói – “Nhưng em đã ném anh đi”.

Cô gái xấu xí òa khóc lớn đến mức làm chim chóc ở xa hàng dặm cũng phải choàng thức giấc, rồi gục xuống chân chồng mình.

Vài ngày sau, dân làng ngạc nhiên khi thấy ông cụ đan rổ đứng bên ngoài nhà thờ.

“Tôi muốn nói vài điều” – ông nói – “Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ gác tay nghỉ ngơi. Nhưng trước đó, tôi phải làm được kiệt tác của đời mình: người đàn bà làm từ liễu gai. Nếu muốn, các bạn có thể có cô ta. Nhưng hãy mang tới cho tôi một món quà để có thể dưỡng già. Ai mang cho tôi món quà quý nhất sẽ có được người đàn bà liễu gai”.

Sau đó ông trở về đầm lầy.

Dân làng bắt đầu thì thầm. Chẳng phải người chồng liễu gai rất cao và duyên dáng hay sao? Chẳng phải anh ta rất chăm chỉ hay sao? Chẳng phải anh ta rất đẹp trai và tha thiết làm hài lòng vợ mình hay sao?

Ngày hôm sau, toàn bộ dân làng từ chối bất cứ lợi ích nào của người đàn bà liễu gai, nhưng bí mật bắt đầu kế hoạch. Những người đàn ông nhìn lên chiến lợi phẩm từ những con bò, những người đàn bà lén mở hộp nữ trang.

_ < 11 > _

“Anh chồng bằng liễu gai đó làm việc như một nô lệ, mà lại không bao giờ ăn” – vợ người đóng giày nói với chồng mình. “Lấy cho tôi người đàn bà liễu gai làm nô lệ, tôi sẽ sống như một quý bà, không bao giờ phải nhấc ngón tay lên cả”.

“Người chồng liễu gai đó không bao giờ sinh sự, không bao giờ cao giọng cả. Không như bà, đồ đàn bà chua ngoa đanh đá” – ông chủ quán rượu nói với vợ mình.

“Người chồng liễu gai không bao giờ mệt mỏi, và không bao giờ bị đau đầu” – ông đồ tể nói với bác hàng bánh. “Cứ nghĩ mà xem!

“Bà chị ơi, cho em mượn một siling nào” – vợ người đóng giày nói – “Em phải mua một cái váy lót mới”.

“Chị không thể” – bà vợ ông thợ rèn đáp dối – “Chị còn phải mua thuốc cho bọn trẻ con ốm trong nhà”.

“Giả tôi số tiền anh nợ đi, tôi cần rồi” – ông đồ tể nói với nhà thợ may.

“Giờ không phải mùa may mặc….” – bác thợ may trả lời “Bao giờ có, tôi trả lại ngay”.

Ông đồ tể vào ngay thị trấn, thuê một luật sư và lấy được lại tiền một cách hợp pháp bằng chính nhà của người ta. Vợ chồng người thợ may phải đến sống ở nhà xưởng của người thợ giày.

“Nhưng ông định làm gì với cái nhà trống rỗng này?” – vợ ông đồ tể hỏi.

“Chả làm gì cả” – ông đồ tể nói, trong đầu nghĩ, nơi này để tình nhân ở thì hợp nhất. Vợ ông đồ tể và vợ ông thợ may đánh nhau ở chợ rồi trở về nhà với đôi mắt bầm tím. Mỗi khi đến quán rượu, chẳng ai nói gì với ai, nhưng đưa mắt nhìn nhau đầy nghi ngờ. Ngài luật sư vẫn ở lại thị trấn. Người ta đồn rằng vợ người thợ may đòi li hôn. Vợ ông chủ quán rượu bị chồng bắt quả tang sau khi phát hiện cầu thang bị bôi mỡ. Tóm lại, đồng cỏ không ai cắt, bò không cho sữa, lò bánh để bẩn thỉu. Cả làng thao thức.

Đến hẹn, ông cụ đan rổ xuống thị trấn và ngồi chỗ bức tường khu đất nhà thờ. Dân làng mang đến món quà của họ. Đầu tiên, người thợ may làm một cái áo khoác lộng lẫy. Bác phó cối mang đến một bao tải ngũ cốc. Bác hàng bánh làm một cái bánh ngọt lạ kiểu. Người thợ mộc đem bàn ghế đến. Người đánh xe mang tặng một con ngựa khỏe mạnh. Bà vợ ông thợ rèn loạng choạng vần một cái pho mát kích cỡ bánh xe cối xay tới. Người chị em của bà ta, vợ người thợ may, mang đến một túi vàng.

“Cô lấy cái này ở đâu ra thế?”– chồng cô ta ngạc nhiên.

“Không phải việc của anh” – cô vợ cắn cảu.

Vợ người chủ quán trọ không ở đó: cô ta đã bị trượt chân trong khi leo cầu thang.

Đến lượt ông đồ tể. Ông tỏ ra nổi trội hơn hẳn khi mang tới 2 con bò đực, 4 con bò cái và một tá cừu.

Ông cụ đan rổ nhìn quanh những thứ này. “Ồ” – ông nói – “Tôi nghĩ giải thưởng phải thuộc về bác đồ tể. Tôi sẽ mang người đàn bà liễu gai quay lại đây ngay”.

Ông đồ tể vui ra mặt, nước dãi chảy quanh mồm.

“Tôi có
thể lấy lại túi ngũ cốc không?”
– bác phó cối hỏi.

“Không, không” – ông cụ nói. “Đây có phải một cuộc trao đổi đâu”. Và ông cụ tống đầy tất cả lên con ngựa. Dân làng tưởng ngã vào nhau tới nơi, họ định đòi lại, nhưng vì quá tò mò về người đàn bà liễu gai nên đứng đó chờ đợi.

Tận khi trời tối ông cụ đan rổ mới quay trở lại. Người đàn bà ngồi trên con ngựa, khoác vải làm áo choàng, che mặt như một cô dâu. Từ dưới áo choàng có những bông hoa trắng rơi xuống. Khi cô đi qua, dân làng thoảng thấy một mùi hương đầy quyến rũ.

Ông đồ tể đứng bên ngoài nhà ông thợ may. Ông nhìn vợ mình chuẩn bị trong hầm chứa than đá.

Ông cụ đan rổ đưa tay đỡ người đàn bà xuống. Ông đồ tể ngửi thấy mùi hương thơm ngát tỏa ra từ người cô. Bên dưới lớp màn che mặt, ông cảm thấy một cô đang liếc nhìn ông một cách cực kỳ quý phái. Ông đồ tể phấn khích quá mức, nhảy lò cò hết chân nọ tới chân kia.

Người đàn bà liễu gai nhấc mạng che mặt lên rồi cởi áo khoác ngoài. Ông đồ tể nhìn chằm chằm. Cô có vóc người ngắn và chân tay xoắn lại, mặt tối tăm và xù xì. Nhưng tệ nhất là từ đầu đến chân cô toàn gai là gai.

“Ông làm cái gì thế này?” – ông đồ tể hét lên.

“À”, – ông cụ đan rổ nói – “Anh chồng liễu gai làm từ cây liễu. Liễu là thứ tốt nhất: vừa cao, vừa thanh nhã, dễ uốn nắn, sẵn sàng giúp nỗi đau lắng dịu. Nhưng tôi thấy các vị không thích anh ta. Thế là tôi quyết định sẽ làm cho các vị người đàn bà liễu gai nhưng từ những cây mận gai. Cây mận gai thì vừa lạnh, vừa cứng, lại lởm chởm gai nhọn – nó sẽ không chịu khuất phục dù lửa hay sương giá”.

_ < 13 > _

Dân làng sẽ đổ nhào vào ông cụ đan rổ nếu không có người đàn bà liễu gai cản bước. Cô ả chụp lấy ông đồ tể và kiễng chân lên hôn ông ta. Ông đồ tể rú lên. Khi ông kéo được cặp môi của mình ra, nó đã bị nát tươm, máu chảy ròng ròng. Bà vợ ông ta, chỉ với một cú đánh, đập vỡ hầm chứa than đá và nhảy xuống đường. Nhìn thấy người đàn bà bằng liễu gai hôn chồng mình, bà ta hét lên và nhảy xổ vào cô. Cả hai người lăn trên rãnh, la hét cào cấu lẫn nhau.

Ngay lập tức, luật sư tuýt còi. “Tại sao ông lại không kiểm tra chi tiết trước nhỉ?” – luật sư nói. “Điều này rất quan trọng đấy. Lẽ ra ông phải luôn để ý kiểm tra những chi tiết nhỏ”.

Đàn ông trong làng lấy dao và nĩa, kéo may của họ ra, hè nhau đuổi luật sư ra khỏi thị trấn. Khi đuổi hết cả hơi, họ dừng lại bảo nhau.

“Đây chắc chắn là trò của ông già” – bác hàng bánh nói – “Ông cụ lừa chúng ta đấy”.

Họ chuyển hướng, tìm đến đầm lầy. Trong bóng tối, họ trượt chân và lội bì bõm, có khi lạc hướng và còn suýt chết đuối. Tận khi trời sáng họ mới đến được nơi ở của ông cụ đan rổ, nhưng cả ông cụ, cả người chồng liễu gai, cả cô gái xấu xí và đứa trẻ, cùng với toàn bộ hàng hóa của dân làng, đã lên ngựa biến mất cả rồi.

NGUYỄN VŨ HƯƠNG TRÀ dịch từ tiếng Anh

Nguồn : Gabriel’s blog.


DARWIN – May 06, 2009

Tháng Năm 6, 2009

TIẾN HÓA

Đồng liêu, đồng môn, đồng chí, đồng đạo, đồng nghiệp …… đồng tiền.

Đó chính là sự tiến hóa các loại …. đồng!

!!!!

Hổng phải tui nói à nha!


BỐ CƯỜI – April 28, 2009

Tháng Tư 28, 2009

6 Hình ảnh Người Cha


1. Có một người cha giữ hai cuốn nhật ký viết về con gái. Trong đó có một cuốn anh viết khi con đang còn trong bụng mẹ. Chín tháng mười ngày trải dài trong 100 trang viết khắc khoải mong chờ đứa con đầu lòng.

2. Có một người cha giữ một kỷ vật trong hộp đồ nữ trang gia bảo. Đó là một miếng kẽm hình tròn có đục lỗ đeo dây. Trên cả hai mặt đều ghi chữ số 34. Ít ai biết vật này có giá trị gì mà anh sợ mất nó hơn bất cứ món nữ trang quý giá nào.

Những ngày đầu con gái chào đời là những ngày anh phấp phỏng “lẻn” vào phòng sơ sinh mỗi ngày chục bận, để âu lo dòm vào đứa bé mỏng mảnh đang nằm trong lồng kính và chưa chịu mở mắt. Đứa bé mang số 34. Và những lần cô hộ lý đưa con anh đi tắm là một lần anh mong ngóng hồi hộp nhìn con số 34 để biết chắc rằng con anh không bị “lạc”. Ngày đón con từ bệnh viện về, khi thay áo cho con gái, anh mừng rú lên khi thấy người ta bỏ quên “vật báu” 34 vẫn còn đeo ở cánh tay con. Anh biết đó sẽ là vật quí còn theo anh mãi mãi.

3. Có một người cha khắc những vết khắc lên cột, vạch những vạch vôi lên tường để đo con gái lớn dần trong niềm vui và nỗi lo. Những vết khắc, vạch vôi là những “bức tranh nhân bản” đẹp tuyệt vời trong bất cứ ngôi nhà nào.

4. Có một người cha cứ trồng thêm một cây khi con thêm một tuổi. Và vườn cây cho con gái cứ nhiều lên trong hạnh phúc đớn đau của người cha khi nghĩ về cái ngày con lên xe hoa về nhà người khác.

5. Tất cả những việc tưởng chừng như “ngớ ngẩn” của người cha dành cho con, để làm gì?

Để một ngày kia con về cùng hạnh phúc
Ba đôi lúc nhìn quanh cho đỡ nhớ nhà mình

Đó là câu thơ của một nhà thơ, anh đã giải thích hộ cho mọi người cha yêu con gái. Rằng đối với cha, con gái có ý nghĩa thân thiết ngự trị vào tất cả – là gia đình, là ngôi nhà. Đến mức nếu không còn có con trong ngôi nhà này thì có nghĩa là ngôi nhà cũng không còn, đã xa lạ như nhà của người khác mất rồi. May mắn sao những kỷ vật kia, những vạch vôi, vết khắc kia, “vườn cây-con gái” kia là hiện thân của con qua năm tháng, vẫn còn ở lại. Và thế là cha nhìn quanh, nhìn lên những “hiện thân” ấy để gặp lại một chút nhà mình, cho đỡ nhớ nhà mình.

6. Một ngày nọ vào bệnh viện, thấy một cô bạn gái đang đút cháo cho bố ăn, tôi chợt thấy thảng thốt với câu nói của nhà thơ Thanh Tịnh “Bố cho con ăn, con cười, bố cười. Con cho bố ăn, bố khóc, con khóc”. Mới thấy vòng đời ngắn ngủi làm sao!

Mỗi người đều lưu giữ trong tim hình ảnh một người cha. Hình ảnh thứ 7, thứ 8, thứ 7 tỉ xin dành cho bạn, cho những ai được may mắn sinh ra trên Trái Đất này.

Chiều nay đưa tiễn thân phụ một người bạn về bên kia dương gian, chợt thấy mọi thứ tình yêu đều cần phải vội vàng, đâu cứ chỉ tình yêu lứa đôi. Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ…

SƯU TẦM


CHỌN AI? April 11, 2009

Tháng Tư 11, 2009

TỔNG THỐNG

Bạn hãy thử trả lời hai câu hỏi dưới đây một cách thành thật nhất và rút ra những suy ngẫm nho nhỏ cho riêng mình:

*Câu hỏi 1: Có một người phụ nữ đang mang thai. Bà ta có đến 8 đứa con. Trong số đó, 3 đứa bị điếc, 2 đứa bị mù và một đứa bị thiểu năng trí tuệ. Hơn nữa người phụ nữ đó lại bị mắc 1 bệnh xh.

Nếu có quyền quyết định, bạn có khuyên bà ta bỏ đứa con trong bụng hay không?

*Câu hỏi 2: Giả sử bạn đang bỏ phiếu chọn một vị lãnh đạo thế giới. Dưới đây là sự thật về đời tư của 3 ứng viên đang dẫn đầu số phiếu.

Ứng cử viên A: Đã từng có vô số vụ bê bối về chính trị, mê tín dị đoan, rất tin vào thuật chiêm tinh, có đến hai tình nhân. Hút thuốc nhiều và uống 8 đến 10 ly rượu mỗi ngày.

Ứng cử viên B: Hai lần bị đuổi việc, ngủ đến tận trưa mới chịu dậy, đã từng dùng thuốc phiện khi còn là sinh viên, uống rượu như uống nước.

Ứng cử viên C: Là anh hùng chiến tranh của Đất nước. Ăn chay trường, không hút thuốc, thỉnh thoảng chỉ uống một ly bia và không hề có bê bối tình ái nào.

Bạn sẽ chọn ai?

Bạn hãy tự trả lời các câu hỏi trước khi đọc tiếp…..

TRẢ LỜI:

· Ứng viên A là: Franklin D.Roosevelt, tổng thống Mỹ.

· Ứng viên B là: Winston Churchill, thủ tướng, Anh Hùng dân tộc của nước Anh.

· Ứng viên C là: Adolph Hitler, tên trùm Đức Quốc Xã!

(Cả ba đều là những nhân vật chính trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai).

Và cuối cùng, nếu bạn trả lời “” cho câu hỏi 1 thì có nghĩa là bạn sẽ giết chết Beethoven – nhạc sĩ vĩ đại người Đức và của cả thế giới.

Bạn ơi! Ở đời, mọi việc không phải lúc nào cũng giống như vẻ bề ngoài của nó. Và những câu hỏi về luân lý, tốt xấu, đúng sai… không phải lúc nào cũng dễ trả lời.

SƯU TẦM


BA TẤC LƯỠI – February 26, 2009

Tháng Hai 26, 2009

NÓI DỐI

“Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” và chỉ với ba tấc lưỡi, con người có thể bóp méo mọi việc, mọi sự vật, mọi hiện tượng. Hơn một thế kỷ trước, nhà văn Mỹ Mark Twain đã viết: “Người ta giả dối bất cứ lúc nào, cả trong lúc thức và lúc ngủ, trong lúc buồn và lúc vui. Nếu bạn giữ được cái lưỡi (không nói), thì sự giả dối cũng chuyển qua những hình thức khác”.

Sự giả dối giống như một thứ kỹ năng, tồn tại trong mọi cá nhân và được chúng ta sử dụng hết sức thoải mái. Không những chỉ có trên phim ảnh hay các ấn phẩm văn học, nghệ thuật … mà sự dối trá hiện diện chung quanh chúng ta dưới dạng này hay dạng khác, bằng hình thức này hay hình thức khác. Đã là con người, thì không ai tránh khỏi nói dối. Nói dối chơi, nói dối thật, nói dối để trốn nợ, để khỏi đi dự tiệc tùng vì tốn tiền, nói dối để khỏi gặp mặt một người mà mình ghét trong đám bạn bè, nói dối để che mặc cảm nghèo hay kém sút hơn người khác, để không phải đi làm, để… v.v. Nói chung thì có hàng ngàn, hàng vạn lý do khiến cho người ta nói dối.

Vì sao con người lại “giả dối” ? Một phần vì giả dối là một phương tiện giúp cho sự thành công trong quá trình sinh tồn của chúng ta. Loài người từ thời đại tiền sử đã sử dụng giả dối để có thể tồn tại và phát triển trong những cuộc chiến dai dẳng vì sự sinh tồn, giả dối đã là một động lực thúc đẩy sự tiến hóa. Dối trá để giúp nhau và dối trá ngay cả với chính bản thân mình, giả dối một sản phẩm tài năng được gây dựng từ não bộ, giúp chúng ta chấp nhận hành vi gian lận của chính bản thân và tha nhân.

Trong đời sống thực tế ,chúng ta thỏa hiệp chấp nhận và đồng ý với các dạng giả dối không lời như xử dụng mỹ phẩm, tóc giả, phẫu thuật thẩm mỹ, quần áo và những dạng trang trí khác để cải trang bề ngoài thực của mình. Chúng ta lợi dụng các hương thơm nhân tạo để đánh lạc hướng dấu vết mùi hương thật của cơ thể. Chúng ta có thể khóc với những giọt nước mắt cá sấu, làm giả một số cơ quan và phơi bày đồ “giả” trước bàn dân thiên hạ…. Những điều này chỉ là một phần nhỏ của tấm thảm giả dối khổng lồ nhằm che đậy, trang trí cho bản chất không trung thực của chúng ta. Nếu sự thật trần trụi này làm cho mọi người cảm thấy khó chịu, thì chúng ta có thể tự an ủi là loài người không phải là loài duy nhất biết khai thác”sự giả dối” để bào chữa và biện minh cho hành vi giả dối của mình. Cây cối và nhiều loài động vật có thể liên lạc với nhau bằng thứ âm thanh “ảo”, phô bày các nghi thức tiếp cận, màu sắc, hóa chất lan truyền trong không khí và cả những phương thức chưa được biết khác, mà theo các nhà sinh vật học thì mục đích vẫn là chuyển tải thông tin và lừa phỉnh nhau. Một số loài hoa tỏa hương quyến rũ ong bướm, côn trùng để ăn thịt. Rắn đuôi chuông ngoe nguẩy chiếc đuôi như con giun để đánh lừa con mồi. Loài nhện nước tạo sóng để thu hút đàn cá đến và tóm lấy nạn nhân bằng ngón nghề điêu luyện của nó. Và một số loài động vật khác có khả năng gửi đi những thông điệp không chính xác để đánh lừa đối tượng….

Một số người khác như các nhà luân lý học, đạo đức học và hầu hết các tôn giáo … thì xem giả dối như là một điều ” tội lỗi” của loài người và nên tránh .Quan điểm của họ là : “Nghĩ thật, nói thật và làm với tất cả sự chân thật là những hình thức của sự thành tín đối với bản thân, đối với Trời và đối với thiên hạ. Nếu đã dối với lòng mình, dối với sự kiện, dối với Trời Đất, dối với thiên hạ thì công việc nhỏ hay lớn gì cũng sẽ không đi đến đâu.” Và theo họ thì bất cứ cái gì xây dựng trên sự giả dối, dù có thành công cũng chỉ là tạm thời chẳng khác nào xây lâu đài trên bãi cát. Sự sụp đổ tàn lụn chỉ là vấn đề của thời gian. Nói chung, thì chủ trương của những người này “thành thật là đường lối tốt nhất” (honesty is the best policy). Những người theo Phật giáo đều biết “không nói dối” là một trong “Thập thiện nguyện” của đạo Phật, nhưng “nói dối” để cứu khổ cứu nguy cho chúng sanh thì theo đạo Phật lại là không có tội (?). Bàn luận xa và sâu hơn nữa về những quan điểm này là một vần đề rộng lớn và có lẽ sẽ tùy thuộc vào trình độ hiểu biết, suy nghĩ và nhân sinh quan của mỗi người.

Trong cuộc sống thực tế hàng ngày, một người phải đối diện với việc “nói thật hay nói dối” rất thường xuyên. Từ việc giả dối nhỏ như nghe chuông điện thoại reo nhưng không bắt để né tránh nói chuyện một người nào đó cho đến những việc dối trá lớn và nghiêm trọng hơn như vì lợi ích cho bản thân hay cho tập thể có liên hệ mật thiết với chúng ta như: gia đình, bạn bè , hãng xưởng, cộng đồng … Chúng ta phải luôn cân nhắc giữa “giả dối và thành thật” để bảo vệ mình và cạnh tranh với đối phương . Nghề nghiệp đôi khi buộc một người không thể nói “sự thật” (mà họ biết) như trong thương trường, chính trường, chiến trường… để giữ lợi thế cho “phe nhà” .

Tóm lại, cuộc sống thực tế của thế nhân đầy dẫy những mâu thuẫn, nói dối hay nói thật là “sự lựa chọn” của mỗi cá nhân trong một hoàn cảnh nhất định nào đó. Như một thiên thần trong phim “Touch by an angle” đã nói: “Hãy nói sự thật với một tấm lòng thương yêu và không nhất thiết phải hoàn toàn là sự thật”. Có lẽ, cách tốt nhất khi phải đối diện với sự lựa chọn giữa “giả & thật” thì
ta nên dùng cái đầu để gạn lọc những gì cần nói ra và dùng trái tim gạn lọc lại thêm một lần nữa những điều phải nói…. Mặc dù “thuốc đắng dã tật” nhưng “lời thật cũng có thể mất lòng”. Và không nói sự thật thì không nhất thiết là đồng nghĩa với nói dối hay nói sai sự thật. Trong quan hệ giữa người và người có lẽ tốt nhất là nên nói sự thật với một tấm lòng thương yêu. Một lời nói mà giúp ích được cho người khác thì bản thân cũng cảm thấy hạnh phúc phải không?

Lý Lạc Long


MÔN ĐỆ – February 17, 2009

Tháng Hai 17, 2009

BÔNG HỒNG

Con sẵn sàng đi trọn con đường ấy với Người, dầu cho có phải rong ruổi ngày dài. Xin hãy cho con, ngay như chỉ được thoáng thấy đất hứa từ xa xa, dẫu cho các vì tinh tú có cấm cản con ghé tới. Nhưng trước khi khởi sự chuyến đi này, con xin có được một bằng chứng.

– Bao giờ? Paracelse hỏi, vẻ lo ngại.

– Ngay bây giờ, người môn đệ bỗng cho thấy một quyết tâm đột ngột, đáp.

Hai người đã khởi sự chuyện trò bằng tiếng La-tinh, lúc này họ nói bằng tiếng Đức.

Người thanh niên đưa bông hồng lên không.

– Người ta quả quyết, anh ta nói, rằng Người có thể đốt cháy một bông hồng và khiến nó tái sinh từ đám tro, …. Vậy xin Người hãy để cho con được là chứng nhân của phép màu huyền diệu này. Đó là điều con xin Người, sau đó con sẽ hiến dâng Người trọn cuộc đời con.

– Ngươi thật là cả tin. Tính cả tin, ta không biết dùng làm gì: điều ta đòi hỏi, là niềm tin.

Kẻ kia tha thiết.

– Chính vì con không cả tin mà con muốn được thấy tận mắt sự hủy diệt và phục sinh của bông hồng.

Paracelse đã cầm lấy bông hoa trước đó, và vừa nói vừa đùa với hoa.

– Ngươi cả tin, ông nói. Ngươi nói rằng ta có khả năng hủy diệt nó?

– Ai lại không thể hủy diệt nó, người môn đệ đáp.

– Ngươi nhầm. Phải chăng ngươi tin rằng người ta có thể ngẫu nhiên trả một điều gì đó về với hư không? Phải chăng ngươi tin rằng nơi Thiên đường, Ađam thứ nhất đã có thể hủy hoại ngay như chỉ một bông hoa, chỉ một sợi cỏ?

– Chúng ta không ở Thiên đường, người thanh niên bướng bỉnh nói; nơi đây, dưới vầng trăng, mọi sự đều phải chết.

Paracelse đứng dậy.

– Thế thì chúng ta đang ở nơi nào khác đây? Phải chăng ngươi tin rằng Thần tính lại có thể tạo ra ở một nơi không phải Thiên đường? Phải chăng ngươi tin rằng sự sa ngã của con người là một điều gì khác hơn là không biết, phải, chính thế, không biết rằng chúng ta đang ở Thiên đường?

– Một bông hồng có thể cháy, người môn đệ nói với vẻ thách thức.

– Trong lò sưởi hãy còn lửa, Paracelse đáp. Nếu như ngươi ném bông hồng này vào đám than hồng, ngươi sẽ ngỡ rằng những ngọn lửa đã thiêu hủy nó, và chính đám tro mới là cái có thật. Ta bảo ngươi rằng bông hồng là vĩnh cửu (?) và duy có dáng vẻ bên ngoài của bông hồng là có thể đổi thay. Ta chỉ cần một tiếng để ngươi lại có thể nhìn thấy nó.

– Một tiếng? người môn đệ ngạc nhiên nói. Lò luyện đã tắt, và các nồi chưng đầy bụi. Người sẽ làm gì khiến nó tái sinh?

Paracelse buồn bã nhìn anh ta.

– Lò luyện đã tắt, ông lặp lại, và các nồi chưng đầy bụi. Trên chặng đường dài, ta sử dụng những khí cụ khác.

– Con đâu dám hỏi ấy là những khí cụ nào, kẻ kia láu lỉnh và tự hạ mình nói.

– Ta nói tới thứ khí cụ mà Thượng đế đã dùng để tạo nên trời đất, và tội nguyên thủy đã che khuất chúng ta. Ta nói tới Lời đã được giảng dạy trong kinh Kabbale.

Người môn đệ lạnh lùng nói:

– Con cúi xin Người cho con được thấy sự biến và hiện của bông hồng. Việc Người thực hiện bằng Lời hay những nồi chưng đối với con không quan trọng gì.

Paracelse ngẫm nghĩ. Sau cùng, ông nói:

– Nếu như ta làm điều đó, ngươi sẽ nói đây là một biểu kiến do ma thuật của đôi mắt ngươi áp đặt. Chuyện phi thường sẽ không cho ngươi được niềm tin mà ngươi tìm kiếm. Vậy thời ngươi đừng quan tâm tới bông hồng nữa.

Vẫn nghi hoặc và không tin cẩn, người thanh niên nhìn ông. Người thày cất cao giọng nói với anh ta:

– Hơn nữa, ngươi là ai mà xâm nhập nơi ở của một người thày và đòi hỏi một phép mầu như thế? Ngươi đã làm gì để xứng với một tặng phẩm như thế?

Kẻ kia run run đáp:

– Con biết rõ là con chưa làm gì. Con xin người, nhân danh tất cả những năm tháng con sẽ theo học dưới bóng người, hãy để cho con được thấy tro rồi bông hồng. Con sẽ không xin người bất cứ một điều gì khác. Con sẽ tin ở lời chứng của đôi mắt con.

Thật đột ngột, anh ta giật lấy bông hồng thắm mà Paracelse đã để lại trên giá sách và ném vào đám lửa. Bông hồng đổi màu và chẳng mấy chốc chỉ còn lại một chút tro. Trong một thời gian vô tận, anh ta chờ những lời nói và phép mầu.

Paracelse vẫn lãnh đạm. Ông nói với một sự giản dị lạ lùng:

– Tất cả các y sĩ và tất cả các nhà bào chế ở Bâle đều quả quyết rằng ta là một kẻ giả mạo. Có lẽ họ có lý. Ấy đó là nơi yên nghỉ của đám tro đã từng là bông hồng và sẽ không còn là bông hồng nữa.

Người thanh niên cảm thấy nhục nhã. Paracelse là một tay bịp bợm hay chỉ là một kẻ có ảo tưởng và anh ta, một kẻ xâm nhập, đã mở cửa nhà ông và bây giờ buộc ông phải thú nhận rằng những phép thần thông lừng lẫy của ông thực ra chỉ là những công thức trống rỗng.

Anh ta quỳ xuống, và anh ta nói:

– Con thật là không thể tha thứ được. Con thiếu đức tin mà Chúa đã đòi hỏi ở các tín đồ. Xin hãy để cho con còn được nhìn ngắm đám tro kia. Con sẽ trở lại khi con mạnh mẽ hơn, lúc đó con sẽ là môn đệ của Người và ở cuối chặng đường con sẽ thấy bông hồng.

Anh ta nói với một nhiệt tình chân thực, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là chút lòng trắc ẩn đối với một bậc thầy đã già, một bậc thầy vốn được tôn kính là thế, vốn bị công kích là thế, đặc sắc là thế và bởi thế lại càng thêm … trống rỗng. Còn anh ta, Johannes Grisebach, anh ta là gì để với một bàn tay bất kính, khám phá ra rằng đằng sau cái mặt nạ kia chẳng có một ai ẩn nấp?

Để lại những đồng tiền vàng có khác nào làm chuyện bố thí. Bởi thế anh ta thu lại những đồng tiền ấy khi bước ra. Paracelse đưa tiễn anh ta mãi tới chân cầu thang và nói với anh ta rằng anh ta bao giờ cũng sẽ là khách quý của ông. Cả hai đều biết rằng họ sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau nữa.

Paracelse còn lại có một mình. Trước khi tắt cây đèn và ngồi xuống chiếc ghế bành đã mòn, ông đổ nắm tro nhỏ vào hốc tay và thì thầm một tiếng. Bông hồng lại lộ ra.

(Rosa y azul)